Thứ Tư, 30 tháng 1, 2013

Hướng đi mới cho vật liệu không nung

(QNg)- Có mặt trên thị trường suốt một thời gian dài, có nhiều ưu thế về chất lượng và môi trường, thế nhưng vật liệu không nung (VLKN) vẫn chưa được người tiêu dùng đón nhận. Chính vì thế, Thông tư 09/2012/TT-BXD về việc sử dụng VLKN thay thế cho vật liệu truyền thống, có hiệu lực thi hành từ ngày 15/1/2013) là tín hiệu vui, mở đường cho sự phát triển của loại vật liệu tiên tiến này.

Vật liệu xây dựng không nung xuất hiện từ khá lâu trên thị trường với nhiều ưu điểm vượt trội như không cần đất sét như vật liệu truyền thống nên không "đụng" đến quỹ đất nông nghiệp, không dùng than, củi… để đốt gây ô nhiễm môi trường.

Nhiều ưu thế

Anh Bùi Anh Dưỡng (phường Nghĩa Lộ, TP.Quảng Ngãi), thợ xây dựng với hơn 20 tuổi nghề chia sẻ "Vật liệu không nung có ưu thế hơn rất nhiều so với vật liệu nung. Vật liệu xây dựng không nung có tính chịu lực cao, cách âm, cách nhiệt tốt. Hơn nữa, xây bằng gạch không nung sẽ tiết kiệm thời gian hơn rất nhiều".
Vật liệu không nung sẽ dần thay thế vật liệu truyền thống gây ô nhiễm môi trường.                                                       Ảnh: X.Hiếu
Vật liệu không nung sẽ dần thay thế vật liệu truyền thống gây ô nhiễm môi trường. Ảnh: X.Hiếu

Có những lợi thế về mặt bảo vệ diện tích đất nông nghiệp và môi trường. Thế nhưng thực tế trên địa bàn tỉnh ta, vật liệu không nung vẫn chưa được chủ đầu tư và người tiêu dùng ưa chuộng. Theo khảo sát của phóng viên, hầu hết các cửa hàng vật liệu xây dựng trên địa bàn tỉnh đều chưa mấy mặn mà với loại vật liệu này.

Theo anh Võ Thành Tấn - Giám đốc Công ty TNHH MTV Võ Thành (nằm trên đường Lê Lợi, TP.Quảng Ngãi) thì "Nhiều năm nay, Công ty chúng tôi chủ yếu bán vật liệu nung, chứ không lấy hàng VLXD không nung. Bởi lấy về cũng chẳng ai mua vì phần đông chủ đầu tư và người tiêu dùng vẫn chuộng loại vật liệu truyền thống". Anh Tấn chia sẻ thêm rằng, nếu thay đổi được thói quen của người tiêu dùng, thì VLXD không nung là sự lựa chọn thông minh, bởi đây là loại hình sản phẩm có nhiều kích thước và mẫu mã nên dễ dàng thích ứng với tính đa dạng trong xây dựng.

Mở hướng đi mới

Nhằm khuyến khích sử dụng loại vật liệu thân thiện với môi trường, Bộ Xây dựng vừa ban hành Thông tư 09/2012/TT-BXD hướng dẫn quy định sử dụng VLXDKN trong các công trình xây dựng, sẽ có hiệu lực kể từ ngày 15/1/2013. Theo đó, các công trình được đầu tư bằng nguồn vốn Nhà nước theo quy định hiện hành bắt buộc phải sử dụng VLXDKN theo lộ trình. Cụ thể, tại các đô thị loại 3 trở lên phải sử dụng 100% VLXDKN. Tại các khu vực còn lại phải sử dụng tối thiểu 50% VLXDKN kể từ ngày Thông tư có hiệu lực đến hết năm 2015, sau năm 2015 phải sử dụng 100%.

Bên cạnh đó, các công trình xây dựng 9 tầng trở lên không phân biệt nguồn vốn, từ nay đến năm 2015 phải sử dụng tối thiểu 30% và sau năm 2015 phải sử dụng tối thiểu 50% VLXDKN loại nhẹ trong tổng số vật liệu xây (tính theo thể tích khối xây).

Bộ Xây dựng sẽ phối hợp với các bộ, ngành liên quan tổ chức thanh tra, kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất việc tuân thủ các quy định về sử dụng VLXDKN trong các công trình xây dựng trên phạm vi toàn quốc. UBND cấp tỉnh chịu trách nhiệm chỉ đạo các cơ quan chức năng thanh tra, kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất việc tuân thủ các quy định về việc sử dụng VLXDKN trong các công trình xây dựng trên địa bàn. Những tổ chức, cá nhân vi phạm các quy định, tùy theo mức độ và hành vi vi phạm sẽ bị xử lý theo quy định hiện hành.

Đây là một tín hiệu vui, mở ra hướng đi mới cho VLXD không nung. Trong thời gian tới, nhờ những chủ trương, chính sách của Nhà nước, VLXD thân thiện với môi trường này, sẽ có được chỗ đứng trên thị trường tỉnh ta.

Vật liệu xây dựng không nung bao gồm: Gạch xi măng - cốt liệu; Vật liệu nhẹ (gạch từ bê tông khí chưng áp, gạch từ bê tông khí không chưng áp, gạch từ bê tông bọt, tấm Panel từ bê tông khí chưng áp); Tấm tường thạch cao, tấm 3D; Gạch khác (đá chẻ, gạch đá ong, vật liệu xây không nung từ đất đồi và phế thải xây dựng, phế thải công nghiệp, gạch silicát...).

Cần thiết ứng dụng công nghệ sản xuất gạch không nung tại An Giang

Ô nhiễm môi trường do sản xuất gạch đang là vấn đề nổi cộm ở nhiều địa phương, nguyên nhân chủ yếu do sử dụng lò thủ công để nung gạch. Chính phủ đã có định hướng phát triển ngành vật liệu xây dựng không nung và hạn chế sản xuất, sử dụng gạch đất sét nung.
Mới đây, tỉnh An Giang đã tổ chức hội thảo khoa học giải pháp và triển vọng ứng dụng công nghệ sản xuất gạch không nung tại An Giang. Trên cơ sở đó, xây dựng lộ trình, kế hoạch cụ thể và chính sách ưu đãi cho các cơ sở sản xuất tiên phong chuyển đổi ứng dụng công nghệ mới không nung, nhằm giảm thiểu tác động ô nhiễm môi trường.

Thực hiện kế hoạch chuyển đổi các lò nung gạch kiểu mới, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh đã hỗ trợ 13 cơ sở, doanh nghiệp sản xuất gạch ngói thủ công, chuyển đổi sang công nghệ lò nung hạn chế gây ô nhiễm môi trường. Tuy nhiên, với định hướng phát triển bền vững, thì việc mở rộng quy mô sản xuất gạch nung cần được xem xét, đánh giá vì những tác động tiêu cực đến môi trường và tài nguyên của nó. Theo lý giải của Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Đinh Thị Việt Huỳnh: Để sản xuất 800 triệu viên gạch đất sét nung (bằng tổng công suất hiện nay của các lò gạch ở An Giang), sẽ tiêu tốn khoảng 1 triệu m3 đất sét, tương đương với 50 héc-ta đất nông nghiệp, với độ sâu khai thác là 2 mét. Đồng thời, sẽ sử dụng khoảng 25.000 tấn trấu, phát thải ra khoảng 0,5 triệu tấn khí CO2, gây hiệu ứng nhà kính và các khí thải độc hại khác gây ô nhiễm môi trường. Trong khi, nếu sử dụng lượng trấu này sẽ phát được hơn 12,5 triệu kwh điện theo công nghệ khí hóa trấu. Và để nung gạch theo những công nghệ lò đã thử nghiệm vẫn tiêu tốn lượng điện khoảng 8 triệu kwh điện/năm, vừa tác động đến nhu cầu điện của xã hội, vừa gián tiếp làm tăng phát thải khí CO2. Hơn nữa, còn phát sinh lượng chất thải rắn sản xuất (tro) gây ô nhiễm nguồn nước mặt. So sánh hiệu quả của công nghệ cho thấy: Nguyên liệu dùng sản xuất gạch sử dụng đất sét dẻo gây mất đất canh tác, nhiên liệu tốn nhiều than và trấu, sản phẩm chất lượng thấp hơn, kích thước nhỏ hơn, năng suất lao động thấp (8-14 người/triệu viên/năm), suất đầu tư cao, ô nhiễm môi trường trầm trọng. Trong khi công nghệ không nung nguyên liệu tận dụng các phế thải công nghiệp tro, xỉ nhiệt điện, đá mạt, xỉ lò gạch…; không dùng than; sản phẩm đa dạng, chất lượng cao, cách âm cách nhiệt tốt, chống thấm, cường độ chịu lực cao; kích thước lớn gấp 5-11 lần gạch nung; chỉ cần 2-4 người/triệu viên/năm; suất đầu tư thấp và môi trường tốt hơn.


Công ty Cổ phần Địa ốc An Giang- đơn vị duy nhất của tỉnh tiên phong sản xuất gạch không nung

Theo Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh, việc ứng dụng các lò nung gạch mới tuy có giảm tiêu thụ trấu, đạt thông số môi trường nhưng với định hướng phát triển bền vững thì việc sản xuất gạch nung dù với bất cứ công nghệ tối ưu nào hiện nay cũng phải sử dụng điện và phát thải khí nhà kính. Do đó, cần thiết đổi mới, ứng dụng công nghệ sản xuất gạch không nung, kiên quyết xóa bỏ các lò gạch thủ công ô nhiễm môi trường. Sở Xây dựng An Giang phân tích: Nhằm thực hiện chủ trương của Chính phủ, từng bước thay thế dần gạch đất sét nung bằng vật liệu xây không nung, tỉnh khuyến khích các tổ chức, cá nhân đầu tư sản xuất vật liệu xây không nung. Định hướng thay thế, chuyển đổi gạch không nung cho các loại gạch nung cũ đến năm 2020, tỉnh An Giang chọn loại gạch xi măng- cát là chủ đạo trong vật liệu xây dựng không nung và gạch khác làm từ phế thải xây dựng.
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Võ Anh Kiệt đề nghị, để thực hiện thành công Quyết định 567 và Chỉ thị số 10 của Thủ tướng Chính phủ về chương trình phát triển vật liệu xây không nung đến năm 2020, trước mắt các sở, ngành, địa phương trong tỉnh cần đẩy mạnh tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân, nhất là đối với các cơ sở sản xuất gạch nhận thức rõ về ưu điểm và lợi thế trong việc ứng dụng công nghệ sản xuất gạch không nung; giới thiệu những mô hình công nghệ phù hợp với điều kiện nguồn nguyên vật liệu sẵn có để tiết kiệm chi phí chuyển đổi đầu tư sản xuất. Đồng thời cần xây dựng lộ trình, kế hoạch cụ thể và chính sách ưu đãi cho các cơ sở sản xuất tiên phong chuyển đổi ứng dụng công nghệ mới không nung nhằm giảm thiểu tác động ô nhiễm môi trường. Song song đó, tăng cường kiểm tra, giám sát và khen thưởng các cơ sở đầu tư công nghệ mới, cũng như xử lý các cơ sở sản xuất theo lối truyền thống, gây ô nhiễm môi trường...

TPHCM bắt buộc sử dụng vật liệu xây không nung

(TBKTSG Online) – Các công trình xây dựng tại TPHCM được đầu tư bằng nguồn vốn nhà nước phải sử dụng 100% vật liệu không nung. Đây là một trong các nội dung tại Chỉ thị 04/2013/CT-UBND ngày 28-1 về tăng cường vật liệu xây không nung trên địa bàn TPHCM.
Theo chỉ thị của UBND thành phố, các công trình xây dựng từ 9 tầng trở lên, không phân biệt nguồn vốn, từ nay đến năm 2015 cũng phải sử dụng tối thiểu 30% và sau năm 2015 phải sử dụng tối thiểu 50% vật liệu xây không nung loại nhẹ (khối lượng thể tích không lớn hơn 1.000 kg/m3) trong tổng số vật liệu xây.
>> Các nhà máy vật liệu không nung bớt lo thất nghiệp
Trước đó, vào tháng 11-2012 thì Bộ Xây dựng đã ban hành Thông tư 09/2012/TT-BXD quy định việc sử dụng vật liệu không nung trong các công trình xây dựng. Theo đó, các công trình vốn nhà nước tại các đô thị loại 3 trở lên bắt buộc phải sử dụng 100% vật liệu không nung từ ngày 15-1-2013, các khu vực còn lại phải sử dụng tối thiểu 50% vật liệu không nung, và sau năm 2015 tất cả phải sử dụng 100% vật liệu không nung.
Để triển khai quy định này tại TPHCM được khả thi, UBND thành phố cũng giao Sở Xây dựng thành phố xây dựng quy định về quản lý và đầu tư phát triển vật liệu xây dựng, trong đó gồm vật liệu xây không nung để trình UBND thành phố ban hành thời gian tới.
Sử dụng vật liệu xây không nung là xu hướng tất yếu do hạn chế được việc khai thác đất sét từ đất nông nghiệp làm giảm diện tích cây lương thực, có thể tận dung phế thải công nghiệp, tiết kiệm nhiên liệu nung, bảo vệ môi trường, tiết kiệm thời gian thi công …
Tuy nhiên, theo UBND thành phố, hiện nay vật liệu xây không nung vẫn chưa được ứng dụng rộng rãi do giá thành còn cao so với gạch đất sét nung, người dân chưa quen, thiếu công nhân sản xuất vật liệu không nung còn các chủ đầu tư thì chưa quan tâm đến việc sử dụng vật liệu mới trong công trình xây dựng, kể cả công trình vốn nhà nước.

Thứ Tư, 13 tháng 6, 2012

Tiêu thụ gạch không nung gặp nhiều khó khăn

Những năm gần đây, cùng với sự đầu tư đổi mới trang thiết bị sản xuất, sản phẩm gạch không nung được đánh giá rất cao về hiệu quả kinh tế cũng như kết cấu kỹ thuật. Tuy nhiên, vì nhiều lý do khác nhau, khả năng cạnh tranh của gạch không nung so với các sản phẩm gạch nung truyền thống trên thị trường vẫn còn nhiều khó khăn.
anh trong tin bai
Ảnh Mạnh Cường
Đưa dây chuyền sản xuất gạch không nung vào hoạt động từ năm 2003, cơ sở sản xuất gạch không nung thuộc Công ty Cổ phần Khoáng Việt Nha Trang được đánh giá là một trong những đơn vị tiên phong trong phong trào sản xuất gạch không nung trên địa bàn tỉnh. Mặc dù có nhiều ưu điểm hơn so với gạch nung truyền thống như khả năng chịu lực cao, cách âm, cách nhiệt, chống thấm tốt, tiết kiệm khoảng 30% chi phí trong xây dựng nhưng khả năng cạnh tranh của gạch không nung trên thị trường hiện vẫn rất khó khăn. Trong số các nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, thói quen sử dụng gạch truyền thống của người dân và doanh nghiệp cũng là một trong những lý do.

Chị Nguyễn Thị Linh, Cửa hàng vật liệu xây dựng Thiên Ý – Thành phố Cam Ranh cho biết: "Người dân cũng quen sử dụng gạch kia rồi, chỉ trong trường hợp khách hàng đặt mới lấy. Gạch đây xây nặng nên người dân ít dùng hơn".

Theo thiết kế, các sản phẩm gạch block không nung đa phần được sản xuất từ bột đá, bụi đá, sử dụng công nghệ ép rung nguyên liệu để sản xuất ra gạch thành phẩm. Tuy nhiên do khả năng cạnh tranh không cao nên hầu hết các cơ sở sản xuất gạch không nung hiện tại chỉ sản xuất cầm chừng, chủ yếu theo đơn đặt hàng của các công trình lớn.
anh trong tin bai
Theo tính toán, mỗi viên gạch không nung có kích thước bằng 4 viên gạch truyền thống, giá mỗi viên gần 400 đồng, tiết kiệm gần 150 đồng/viên khi sử dụng. Mặc dù giá bán giữ ở mức ổn định nhưng do thị trường thu hẹp nên lượng gạch tồn tại các đơn vị sản xuất tương đối lớn. Chỉ tính riêng Công ty Cổ phần Khoáng Việt Nha Trang, lượng gạch block tồn hiện nay đã lên tới 30.000 viên. Đây là thách thức lớn của đơn vị trong thời điểm kinh tế khó khăn như hiện nay.

Bà Vũ Thị Nương, Giám đốc Công ty Cổ phần Khoáng Việt Nha Trang cho biết: "Bản chất từ xưa đến nay, họ sử dụng gạch ống quen rồi. Người sử dụng họ đang còn sợ nặng tường. Thợ hồ sợ đưa gạch lên xây nặng. Về chất lượng và giảm chi phí gia đình thì gạch block lợi hơn gạch ống. Đầu tháng 6/2012, tôi có nhận thông báo của Bộ xây dựng về xây dựng các công trình nhà nước và tư nhân nhưng cũng khó khăn lắm. Bởi các công trình họ cũng chưa am hiểu được. Đang khó khăn không biết có thực hiện được hay không nữa".

Để duy trì và phát triển các cơ sở sản xuất gạch không nung, bên cạnh việc quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi để các cơ sở sản xuất mở rộng qui mô hoạt động, nhà nước cũng cần hỗ trợ đầu tư cho công tác quảng bá thương hiệu, đồng thời cũng nên hỗ trợ đầu ra cho sản phẩm, để gạch không nung có thể đến gần hơn các công trình xây dựng, tránh tình trạng như hiện nay./.

Khuyến khích, đẩy mạnh sử dụng vật liệu xây không nung

1302232225_185455202_1-Hinh-anh-ca-Gach-khong-nung-ban-chay-500x289
Thủ tướng Chính phủ vừa có chỉ thị yêu cầu các bộ, ngành, địa phương về việc tăng cường sử dụng vật liệu xây không nung (VLXKN) và hạn chế sản xuất, sử dụng gạch đất sét nung. Trong đó, Thủ tướng yêu cầu Bộ Xây dựng phải trình Thủ tướng Chính phủ ban hành các cơ chế chính sách đồng bộ nhằm tăng cường sử dụng VLXKN theo hướng các công trình sử dụng vốn nhà nước như trụ sở làm việc, bệnh viện, trường học bắt buộc phải sử dụng VLXKN.
Vật liệu xây không nung: xu hướng tất yếu
Sử dụng gạch nung (nguyên vật liệu từ đất sét) sẽ mất rất nhiều đất canh tác, ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh lương thực và phải sử dụng một lượng than khổng lồ, kèm theo đó là một lượng củi đốt rất lớn gây ô nhiễm môi trường, để lại hậu quả dài lâu. Chính vì thế, Sở Xây dựng TP cho biết, việc sử dụng VLXKN thay thế gạch đất sét nung truyền thống là một xu hướng phát triển tất yếu. VLXKN có nhiều yếu tố vượt trội và khắc phục được các nhược điểm của gạch nung.
Theo ông Phan Đức Nhạn, Phó Giám đốc Sở Xây dựng TPHCM, VLXKN khắc phục được nhiều nhược điểm của gạch nung đó là không dùng nguyên liệu đất sét để sản xuất mà có thể tận dụng phế thải công nghiệp, góp phần bảo vệ môi trường, tiết kiệm nhiên liệu. Bên cạnh đó, VLXKN còn nhiều ưu việt: nhiều mẫu mã, màu sắc, kích thước khác nhau, thích ứng tính đa dạng trong xây dựng, có tính chịu lực cao, tiết kiệm năng lượng, cách âm, chống cháy và bền chắc hơn vật liệu xây bằng đất sét nung. “Nếu một công trình cao tầng sử dụng gạch nhẹ thì có thể giảm tải trọng công trình (xi măng, sắt thép, kích thước móng…) so với sử dụng gạch nung. Điều này đồng nghĩa với việc tiết kiệm được nhiều chi phí xây dựng cho công trình”, ông Nhạn cho biết.
Ông Nhạn dẫn chứng: Block bê tông nhẹ, kích thước lớn 30x20x60cm với thể tích lớn dung trọng nhỏ 400-1.200 kg/m³, cường độ lớn từ 40-100kg/cm² có thể giảm nhẹ tải trọng tường xây trong công trình xây dựng từ 40%-50%, góp phần làm giảm giá thành xây dựng công trình, đặc biệt là các vùng đất yếu. Đây là sản phẩm rất thích hợp với các tòa nhà cao tầng, xây nhanh, mặt phẳng không cần trát. Các sản phẩm VLXKN nhẹ nên tốc độ thi công nhanh, giảm tiêu hao nhân công, đẩy nhanh tiến độ xây dựng công trình, giảm chi phí quản lý và mang lại hiệu quả kinh tế cho nhà đầu tư.
Nhằm khuyến khích và tăng cường sử dụng VLXKN trong các công trình xây dựng theo định hướng của Quyết định số 567/QĐ-TTg và Chỉ thị số 10 của Thủ tướng Chính phủ, Sở Xây dựng TP đã dự thảo Chỉ thị khuyến khích và tăng cường sử dụng VLXKN trong các công trình xây dựng trên địa bàn TPHCM. Dự thảo quy định, các sở – ngành, UBND các quận – huyện, các tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực xây dựng và vật liệu xây dựng trên địa bàn TP thực hiện nghiêm việc khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư trong các khu công nghiệp, sử dụng công nghệ hiện đại, đảm bảo tiêu chuẩn về môi trường, để sản xuất các loại VLXKN như gạch bê tông khí chưng áp (AAC), gạch xi măng – cốt liệu, gạch bê tông bọt, tấm xây dựng 3D, tấm tường thạch cao; đa dạng hóa sản phẩm nhằm đáp ứng yêu cầu cho từng loại công trình xây dựng….
Công trình cao tầng: Dùng ít nhất 30% VLXKN
Theo Sở Xây dựng TP, thời gian qua, chương trình phát triển VLXKN tại TP đạt được một số kết quả nhất định. Tuy nhiên đến nay tình hình triển khai Quyết định số 567/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình phát triển VLXKN đến năm 2020 trong thực tế còn nhiều bất cập. Một lãnh đạo Sở Xây dựng cho biết, một trong những bất cập hiện nay là việc thu thuế tài nguyên đối với việc khai thác đất sét làm gạch nung. Mặc dù sắp tới, thuế tài nguyên đối với đất sét sản xuất gạch sẽ được điều chỉnh lên mức tối đa là 15% nhưng mức thuế này vẫn còn thấp, chưa hạn chế được việc khai thác tài nguyên quý giá này.
Hơn nữa, việc đánh thuế tài nguyên từ việc khai thác từ đất sét để sản xuất gạch thực tế cũng gặp nhiều khó khăn vì việc đất sét không chỉ dùng để làm gạch. “Thay vì đánh thuế tài nguyên từ khai thác đất sét để làm gạch nung thì có thể thu thuế bảo vệ môi trường đối với loại gạch nung đất sét tại các công trình xây dựng có sử dụng loại gạch này”, vị lãnh đạo này đề nghị.
Sở Xây dựng cho biết, nguyên nhân VLXKN hiện vẫn chưa được ứng dụng rộng rãi là do người tiêu dùng đã quen dùng gạch nung; giá thành sản phẩm khá cao so với gạch đất sét nung; các tiêu chuẩn kỹ thuật liên quan đến chất lượng sản phẩm, thiết kế, thi công và nghiệm thu công trình sử dụng VLXKN chậm ban hành; các nhà đầu tư, đơn vị sản xuất VLXKN chưa nắm rõ hết các chính sách ưu đãi trong đầu tư phát triển sản xuất VLXKN; sản lượng và chất lượng một số VLXKN chưa đáp ứng nhu cầu của thị trường TP…
Theo Sở Xây dựng, bên cạnh việc có cơ chế khuyến khích và tiến tới bắt buộc sử dụng VLXKN trong các công trình xây dựng, cần phải bổ sung cơ chế chính sách để các DN xây dựng đào tạo tay nghề, bồi dưỡng kỹ thuật cho các công nhân trực tiếp sử dụng VLXKN. Và điều quan trọng nữa là cần phải có biện pháp chế tài đối với các tổ chức, cá nhân có liên quan đến công trình thuộc đối tượng bắt buộc sử dụng gạch không nung vi phạm quy định.
Từ đó, dự thảo chỉ thị của Sở Xây dựng cũng quy định: Công trình sử dụng vốn nhà nước (trụ sở làm việc, bệnh viện, trường học…) bắt buộc phải sử dụng VLXKN theo tỷ lệ trong tổng số vật liệu xây do Thủ tướng Chính phủ và Bộ Xây dựng quy định. Các công trình nhà cao tầng (từ 9 tầng trở lên) không phân biệt nguồn vốn, phải sử dụng tối thiểu 30% VLXKN loại nhẹ (khối lượng thể tích không lớn hơn 1.000kg/m³) trong tổng số vật liệu xây. Khuyến khích các công trình xây dựng sử dụng VLXKN có độ rỗng lớn hơn 30% và VLXKN loại nhẹ. Không sử dụng gạch đất sét nung bằng lò thủ công, lò thủ công cải tiến, lò vòng sử dụng nhiên liệu hóa thạch (than, dầu, khí) trong các công trình xây dựng. Hiện dự thảo này đang lấy ý kiến của các sở-ngành, UBND các quận-huyện và các đơn vị để trình UBND TP.
Theo SGGP

Thứ Hai, 21 tháng 5, 2012

Vật liệu xây không nung lợi ích đã rõ

Vật liệu xây không nung lợi ích đã rõ

Sau 2 năm thực hiện chương trình phát triển vật liệu xây không nung (VLXKN), sản lượng 3 chủng loại sản phẩm chính là gạch xi măng, gạch bê tông khí và gạch bê tông bọt đều có khả năng đạt, vượt mục tiêu đề ra.

Tuy nhiên, việc tiêu thụ, nhất là gạch bê tông khí và bê tông bọt, rất hạn chế. Thậm chí, có DN không tiêu thụ được đã phải dừng sản xuất. Thực tế này đòi hỏi phải có những giải pháp quyết liệt hơn trong thời gian tới để đưa chương trình phát triển VLXKN tới đích.
Sản xuất gạch không nung trên dây chuyền hiện đại tại Công ty TNHH một thành viên Nam Huy (Lào Cai).

Chỉ tiêu thụ được 50-60% sản lượng

Sau 2 năm triển khai chương trình phát triển VLXKN là hàng loạt dây chuyền sản xuất VLXKN đã được đầu tư đều đi vào hoạt động. Trước khi ban hành chương trình (tháng 4-2010), các địa phương chỉ có dây chuyền quy mô nhỏ, công suất dưới 3 triệu viên gạch xi măng/năm, đến nay đã có những dây chuyền công suất 60 triệu viên/năm. Thống kê chưa đầy đủ, cả nước hiện đạt tổng công suất 3 tỷ viên gạch xi măng/năm. Trong khi đó, từ 1 dây chuyền sản xuất gạch bê tông khí, 100.000m3/năm, đã có 22 DN đầu tư (9 DN đã hoạt động), với tổng công suất 3,8 triệu mét khối/năm. Còn với gạch bê tông bọt, từ 4 dây chuyền, công suất 4000-10.000m3/năm, hiện đã có 17 cơ sở đầu tư sản xuất với tổng công suất 190.000m3/năm. Tính cả 3 sản phẩm chủ lực trên, VLXKN hiện đạt tỷ lệ 16-17% tổng vật liệu xây (mục tiêu chương trình đạt tỷ lệ 20-25% vào năm 2015). Tuy nhiên, ngoài sản phẩm gạch xi măng có mặt trên thị trường từ lâu, giá bán thấp hơn so với gạch đất sét nung, nên có khả năng tiêu thụ tốt (85%-90% sản lượng), thì gạch bê tông khí và bê tông bọt tiêu thụ rất chậm. Báo cáo của Hiệp hội VLXD cho thấy, hầu hết các dây chuyền gạch bê tông khí, bê tông bọt chỉ chạy 20-30% công suất thiết kế. Chỉ có 1 dây chuyền đạt gần 50% công suất thiết kế. Có đơn vị mới đi vào sản xuất đã phải dừng hoạt động do hàng tồn kho lớn, tiêu thụ không được, nếu tiếp tục vận hành lại càng tốn kém. Mặc dù chạy chưa hết nửa công suất, nhưng hầu hết các nhà máy cũng chỉ bán được 50-60% sản lượng. Năm 2011, 9 nhà máy bê tông khí tiêu thụ 0,2 triệu mét khối sản phẩm, còn 17 nhà máy bê tông bọt tiêu thụ 0,05 triệu mét khối sản phẩm. Tình hình tiêu thụ 4 tháng đầu năm 2012 cũng chưa có dấu hiệu khả quan. Nguyên nhân là do nhà đầu tư thiếu kinh nghiệm, nguồn vốn hạn chế, nên phần lớn dây chuyền có công nghệ ở mức trung bình. Vì vậy, sản phẩm cũng chỉ đạt chất lượng trung bình theo tiêu chuẩn Việt Nam. Các nhà máy lại ra đời đúng lúc kinh tế gặp khó khăn, lạm phát cao, đầu tư công cắt giảm, thị trường bất động sản đóng băng, nên sản phẩm vật liệu tiêu thụ chậm. Mặt khác, lãi suất tăng cao, chi phí sản xuất cao đã đẩy giá thành sản phẩm gạch bê tông cao hơn gạch đất sét nung 20-25%.

Gạch đất sét nung vẫn chiếm tỷ lệ lớn

Một trong những mục tiêu tăng cường sản xuất VLXKN là hạn chế gạch đất sét nung, bởi quá trình sản xuất loại gạch này gây ảnh hưởng xấu đến môi trường. Song, đến thời điểm này, sản lượng gạch đất sét nung cả nước vẫn đạt khoảng 20,9 tỷ viên, chiếm 83% vật liệu xây, trong đó sản lượng gạch sản xuất bằng lò thủ công, là loại lò gây ô nhiễm môi trường vẫn chiếm 35-40%. Đáng chú ý, Hà Nội cùng với Thái Bình, Vĩnh Long, An Giang là những địa phương còn nhiều lò gạch thủ công nhất nước. Như vậy, mục tiêu đến năm 2010 không còn lò gạch đất sét nung thủ công như Bộ Xây dựng đề ra đã "phá sản".
Các chuyên gia cho rằng, công trình cao tầng phải sử dụng tối thiểu 30% VLXKN nhẹ. Các địa phương phải quyết liệt thực hiện lộ trình giảm sản xuất, sử dụng gạch đất sét nung và chấm dứt lò gạch thủ công. Với công trình cao 25 tầng, sử dụng VLXKN nhẹ thay gạch đất sét nung, mặc dù giá thành VLXKN cao hơn gạch đất sét nung nhưng chi phí đầu tư toàn công trình giảm 8% do giảm chi phí kết cấu móng, khung dầm nhờ trọng lượng gạch nhẹ; giảm được chi phí quản lý, chi phí tài chính nhờ tiến độ thi công được đẩy nhanh, sớm đưa công trình vào sử dụng do năng suất thi công cao hơn. Chưa kể, VLXKN tiết kiệm năng lượng làm mát mùa hè, sưởi ấm mùa đông trong giai đoạn vận hành. Theo tính toán, nếu sử dụng toàn bộ sản lượng 4,2 tỷ viên gạch quy tiêu chuẩn VLXKN, có thể tiết kiệm được 6,15 triệu mét khối đất sét, 615.000 tấn than và giảm thải vào khí quyển 2,4 triệu tấn CO2.

Thứ Ba, 1 tháng 5, 2012

Vật liệu xây không nung thiếu hành lang pháp lý

 

Vật liệu xây không nung (VLXKN) mặc dù được xem là vật liệu xanh, thân thiên môi trường và được khuyến khích sử dụng.Tuy nhiên, các DN sản xuất loại vật liệu này đang rất khó khăn trong việc tìm chỗ đứng trên thị trường.


Vật liệu xây không nung: Hành lang pháp lý thiếu đồng bộ
ảnh minh họa

Cho đến thời điểm hiện nay theo nhiều chuyên gia nguyên nhân của sự việc trên là do chúng ta thiếu một cơ chế, chính sách đồng bộ.

Theo số liệu thống kê của Hiệp hội vật liệu xây VN cho thấy, hiện các DN sản xuất VLXKN chỉ sản xuất đạt khoảng 20 - 30% công suất thiết kế. Nhà máy nào hoạt động tốt nhất cũng chỉ phát huy được 50% công suất.
Sức tiêu thụ yếu
Hiện có 7 nhà máy đang tồn tại trong tình trạng sản xuất cầm chừng, 1 nhà máy phải dừng hẳn. Vậy nhưng vẫn có 15 nhà máy đã đầu tư, đang chuẩn bị khánh thành và khoảng gần 20 nhà máy nữa đang trong quá trình triển khai đầu tư xây dựng.
Phản ánh từ đại diện Cty cổ phần Tân Kỷ Nguyên cho thấy, sau hai năm đầu tư xây dựng và chạy thử, với số vốn đầu tư giai đoạn 1 khoảng 160 tỉ đồng, nhà máy có công suất thiết kế khoảng 450.000 mét khối/năm, khoảng 350 triệu viên gạch tiêu chuẩn, Cty này đã cho ra thị trường mẻ gạch đầu tiên vào đầu năm 2011. Tuy nhiên, hiện Cty đang gặp thử thách rất lớn khi sức tiêu thụ của thị trường quá yếu, không như kỳ vọng ban đầu vì hiện nhà máy chỉ hoạt động bằng một phần tư công suất thiết kế.
Chia sẻ từ một đại diện DN sản xuất VLKN có tiếng tại Thanh Hóa cũng cho thấy, trong năm 2011 Cty chỉ bán được khoảng hơn 15.000 khối gạch ra thị trường trong khi đó theo thiết kế công suất hoạt động của Cty là 500.000 mét khối/năm. Như vậy, đây là một con số khá khiêm tốn so với năng lực của nhà máy - lãnh đạo Cty chia sẻ.
Vướng từ cơ chế
Thiếu một nhạc trưởng đứng ở vị trí phù hợp để điều hành có hiệu lực và hiệu quả về phát triển vật liệu xây dựng.

Theo ông Phạm Văn Bắc - Phó vụ trưởng Vụ VLXD, định hướng đến 2020 VLXKN chiếm khoảng 30 - 40% vật liệu xây. Tuy nhiên, chặng đường để đạt được mục tiêu “khiêm tốn” đó cũng không dễ dàng. Ông Bắc cho biết thêm, một khi công suất chưa được phát huy, hành lang pháp lý dẫn đường thiếu đồng bộ, hệ thống định mức kinh tế kỹ thuật còn đang trong quá trình xây dựng nên các công trình sử dụng vốn nhà nước không dám sử dụng bởi không thể thanh quyết toán…
Phân tích của một số chuyên gia đầu ngành xây dựng cho thấy, nếu chiếu theo Quyết định 567 của Thủ tướng Chính phủ và Nghị định số 108/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ về Quy định chi tiết hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư thì hiện các văn bản hướng dẫn thực hiện cơ chế chính sách hỗ trợ cho việc đầu tư phát triển và sử dụng VLXKN chậm được ban hành, nên các DN đầu tư sản xuất VLXKN chưa được hưởng các ưu đãi theo quy định.
Đồng thời, những quy định sử dụng VLXKN vào các công trình xây dựng chưa được hướng dẫn cụ thể, chưa đủ mạnh để buộc các chủ đầu tư phải sử dụng VLXKN. Đơn cử, mặc dù nhà nước đã quy định phải sử dụng trên 30% gạch bê tông nhẹ cho các tòa nhà cao tầng, nhưng nhiều chủ đầu tư chưa tuân thủ trong khi các cơ quan quản lý lại thiếu biện pháp chế tài. Nếu các cơ quan quản lý nhà nước yêu cầu phải dùng loại gạch này mới phê duyệt dự án thì chắc chắn các chủ đầu tư và nhà thầu phải tuân theo - chuyên gia chia sẻ.
Trao đổi cùng DĐDN, Chủ tịch Hiệp hội VLXD, ông Trần Văn Huynh lập luận : “Sản xuất VLXKN là loại hình sản xuất công nghiệp, tổ chức quản lý mang tính chất tập trung, sản lượng lớn. Quan hệ giữa xây dựng và sản xuất loại vật liệu này là quan hệ hợp đồng cung ứng dịch vụ mang tính cạnh tranh, và độc lập trong thực hiện.
Thế nhưng, do tổ chức quản lý đầu tư phát triển VLXKN khép kín theo bộ ngành TƯ và địa phương trong suốt thời gian qua, dẫn đến phân tán trong đầu tư không theo quy hoạch, không theo cơ cấu sản phẩm, biến các cơ sở sản VLXKN phụ thuộc vào sự chỉ đạo của các cấp theo cơ chế chủ quản TƯ và địa phương. Cấp chỉ huy thì nhiều, nhưng lại thiếu một nhạc trưởng đứng ở vị trí phù hợp để điều hành có hiệu lực và hiệu quả về phát triển vật liệu xây dựng nói chung, VLXKN nói riêng”, ông Huynh cho biết.
Vụ trưởng Vụ VLXD, Bộ Xây dựng Lê Văn Tới cũng đồng tình rằng, việc tạo cơ chế đồng bộ cho VLXKN cần phải đẩy nhanh hơn vì những mục tiêu xã hội hết sức tốt đẹp. Thiết nghĩ, hơn lúc nào hết chúng ta cần đồng bộ tháo gỡ và tạo điều kiện về cơ chế và tổ chức quản lý để phù hợp với xu thế phát triển, góp phần bảo đảm an ninh lương thực, bảo vệ môi trường, làm phong phú sản phẩm vật liệu xây dựng.


Nguồn đọc thêm: http://www.xaluan.com/modules.php?name=News&file=article&sid=381649#ixzz1tfbwQNrS
http://www.xaluan.com/